
Một chiều cậu ấy rủ tôi đi xem tổ ong được làm ở dưới nóc trần hành lang, nơi nối hai dãy nhà cơ quan. Đó là một tổ ong to, những con ong vàng bay ra bay vào vù vù, có con lượn lờ ngay trên đầu chúng tôi. Cậu ấy nói với tôi: "Ong vàng làm tổ trong nhà là điềm báo sự tốt lành, giàu sang, may mắn đấy, cậu có biết không?". Chúng tôi liền đi tìm khắp các ngõ ngách trong cơ quan xem còn tổ nào khác không và phát hiện ra có rất nhiều. Có tổ đông đúc, ong bám vàng trên mặt, có tổ đã bị bỏ không, các ô lưới trống rỗng. Kích thước các tổ ong cũng to nhỏ khác nhau, tôi đoán rằng nó tùy thuộc vào gia đình ong có đông thành viên hay không. Sau khi đi "thanh tra" sự sống của thế giới động vật, tôi rủ cậu ấy đến chỗ có bụi tre ngà. Tôi lấy những búp lá còn đang cuốn chặt, dạy cậu ấy rút cuống, xâu thành vòng và cậu ấy cũng chọn một búp thật mượt, thật dài làm thành chiếc vòng tay tặng tôi. Sau này những chiếc vòng lá đó đã được tôi ép khô trong trang vở, giữ gìn suốt mấy chục năm, và mỗi khi tôi giở lại bao kí ức tươi đẹp lại ùa về, khiến tôi không khỏi bâng khuâng xao xuyến.
Một hôm khi xách nước từ nhà bếp về phòng tôi bỗng trông thấy một chú chim non, chắc mới đang độ tập bay, nằm thiêm thiếp trên sân. Tôi vội vàng bế chú chim lên, chú vẫn còn ấm nhưng không thở nữa rồi. Lòng tôi đầy xót xa, thương cảm. Tôi bế chú chim tội nghiệp ra gốc cây hoa đại, lấy cành cây đào một cái hố, đặt chú ở đó trong những chiếc lá rồi mai táng cho chú. Tôi nhặt những bông hoa đại trắng muốt, còn tươi xếp lên xung quanh ngôi mộ, ngồi im lặng tưởng niệm vài phút. Ngày hôm sau, tôi kể cho cậu ấy và tôi không phải đơn độc khi thăm mộ chú chim non nữa. Chúng tôi nhặt những đóa đại tươi, thắp hương viếng chú và cầu chúc cho chú sớm được đầu thai một kiếp khác tốt đẹp hơn.
Vào những buổi tối tôi và cậu ấy thường học nhóm ở phòng tôi. Chúng tôi đang theo chương trình học nghề nhưng hình như trên lớp cậu ấy hay nói chuyện, chiều về lại đi đánh bi-a nên không nắm được bài. Tôi chỉ cho cậu ấy lí thuyết còn cậu ấy thực hành. Thường tôi sẽ ngồi làm các chi tiết, như cắt vỏ một đầu dây, cạo lớp cách điện, hay cắt chữ E... Còn cậu ấy xoáy xoáy lắp lắp các thiết bị lên bảng điện, ghép các chữ E lại, cuốn dây vòng quanh tạo thành một cuộn từ... Phần kiến thức nghề ít và đơn giản, chúng tôi học rất nhàn nên có nhiều thời gian rảnh. Thường chúng tôi mang bài tập hè môn Toán ra làm, rồi trao đổi những chỗ khó. Thi thoảng học xong, còn sớm, chúng tôi chơi cờ vua, bàn cờ vua mini có nam châm bố mua cho tôi từ đầu năm học. Hai đứa cứ nhường nhau mãi, cuối cùng tôi đành chịu đi trước. Tôi tưởng tôi là đối thủ của cậu ây vì ở nhà, tôi luôn đánh cờ thắng bố mà, thế nên tôi ra hẹn là phải chơi nghiêm túc, hết mình mới khí thế. Ai dè tôi mới đi được vài quân đã bị thua rồi. Cậu ấy lo tôi buồn nên quay sang chỉ cho tôi cách đánh. Sau này tôi đã áp dụng nó khi chơi với một vài người và thật lạ là ai cũng thua. Đó thực sự là một nước cờ thông minh, nhưng tôi thì không thông minh tí nào. Khi tôi bị mọi người phát hiện ra nước chơi đó thì tôi chả còn nghĩ thêm được cái gì hiểm hóc nữa, rốt cuộc lại bị đánh cho te tua.
Gần sát khu chúng tôi ở có một cây ngọc lan lớn. Những đêm hè trời lộng gió, không gian như được dệt bởi mùi hương thơm ngát, ngọt ngào của hoa ngọc lan. Trong phòng học vang lên giọng hát của ca sĩ Mỹ Linh "Góc phố nơi anh hẹn, cành ngọc lan xòa bóng mát, tỏa hương bát ngát...". Dưới ánh sáng mơ màng của ngọn đèn cao áp xa xa, cậu ấy trèo lên cây và hái những bông hoa chớm nở, trắng muốt, thơm ngào ngạt tặng cho tôi. Trong một lúc tôi cảm thấy đẹp biết bao hình ảnh dưới bầu trời lấp lánh ngàn sao, người bạn trai với những đóa lan thơm trên tay, ngồi tựa trên cây, cười hồn nhiên vui vẻ, vẫy gọi tôi đến gần.
Một tối chúng tôi lên hành lang tầng hai đứng hóng gió. Ngay sát bên cạnh chúng tôi tỏa ra một mùi hương, không ngạt ngào như hoa ngọc lan nhưng quyến rũ làm sao. Cậu ấy nhoài người cố vít một cành cây lại gần và hái cho tôi một chùm hoa sấu. Tôi từng ăn cả những quả sấu còn non, bé như cúc áo, đến những quả sấu già chín vàng, thậm chí tôi ăn cả lá sấu chấm với muối trắng nữa, nhưng đây là lần đầu tiên tôi được nhìn thấy hoa sấu. Hoa sấu có một mùi thơm chua dịu rất đặc biệt mà tôi không muốn dùng bất cứ từ gì để diễn tả, tôi sợ sự bất lực của ngôn ngữ. Chỉ biết rằng mỗi khi tôi để gần mũi, thở sâu một chút là mùi hoa ấy như ngấm vào từng mạch máu trong cơ thể tôi, làm trái tim tôi xao xuyến lạ lùng. Chùm hoa cậu ấy tặng, tôi cũng ép khô trong vở, như muốn những kỉ niệm không bao giờ phai.
Trong rất nhiều kỉ niệm của chúng tôi, tôi nhớ nhất một đêm tôi và cậu ấy ngồi bên nhau trên sân thượng dãy nhà hai tầng. Bầu trời mùa hạ thăm thẳm, trong veo với hàng ngàn vì sao lấp lánh. Gió vẫn thổi mát rượi mang hương ngọc lan bay khắp một khoảng trời. Chúng tôi kể cho nhau rất nhiều chuyện nhưng không ai nói gì về tình cảm của mình. Ánh mắt cậu ấy luôn nhìn thằng, hiền hòa, vui vẻ nhưng đôi khi tôi lại cảm thấy một chiều sâu không bờ bến, như cậu ấy định nói gì mà lại cố cất giữ trong lòng. Cậu ấy chỉ lên trời và bảo: "Ngôi sao sáng nhất trên trời kia là ngôi sao của tình bạn chúng mình. Chúng mình sẽ mãi mãi là đôi bạn thân nhất trong những đôi bạn sinh năm 1985, Thu nhé!". Tôi gật đầu mà lòng ngập tràn vui sướng. Đó như một lời nguyện ước cho tình bạn của hai đứa trẻ thơ. Tôi đã không hề nghĩ đến một cái gì xa xôi hơn. Tôi vui vì có một người bạn như cậu ấy và cảm thấy hạnh phúc khi ở bên cậu ấy, giản dị thế thôi. Đúng lúc ấy một ngôi sao băng vụt sáng trên bầu trời, tôi đã kịp ước cho tình bạn của chúng tôi mãi mãi bền lâu. Còn cậu ấy ước gì, tôi không biết, nhưng cậu ấy đã nắm lấy tay tôi trong khoảnh khắc đó, khi ánh mắt vẫn đang nhìn về vệt sáng vừa lóe lên.
Một tháng học nghề nhanh chóng kết thúc, chúng tôi giờ mới thực sự được nghỉ hè, trở về với mái nhà ở làng quê mình. Những tưởng năm học tới chúng tôi sẽ tiếp tục giúp nhau học tập, cùng nhau chia sẻ những trò chơi, những thức quà, đặc biệt là những vui buồn trong cuộc sống, nhưng thật trớ trêu khi một tháng sau đó có quyết định tách huyện. Bố cậu ấy chuyển công tác đến trụ sở huyện mới và cậu ấy phải đi theo bố, đến học trường chuyên ở đấy. Những ngày chúng tôi được lẽo đẽo cùng nhau đi chơi đi học chấm dứt nhưng tình bạn của chúng tôi thì không dừng lại. Thời gian về sau chúng tôi thường xuyên viết thư, gọi điện cho nhau, đôi khi chỉ để nói những điều vu vơ, chỉ để cho vơi đi nỗi nhớ. "Tớ nhớ cậu" là câu tôi thường viết và cũng thường thấy trong thư của cậu ấy. Chúng tôi chia sẻ với nhau mọi điều, như cảm xúc về một bộ phim hay, chuyện học hành sách vở, chuyện bạn bè gia đình và cả những rung động đầu đời chóng đến chóng đi nữa.
Tình bạn chúng tôi vẫn đi cùng năm tháng và rồi như sự sắp đặt của duyên số, định mệnh, chúng tôi lại có cơ hội ở gần nhau. Chúng tôi cùng vào đại học mà trường tôi với trường cậu ấy chỉ cách nhau có đôi cây số. Chúng tôi trở lại với những buổi đi chơi, đạp xe lòng vòng khắp Hà Nội, đếm những cây sấu ven đường Phạm Hùng, thưởng thức gói cốm làng Vòng ướp hương hoa sữa bên hồ Ngọc Khánh, ăn kem Tràng Tiền khi ngắm hoàng hôn trên Hồ Gươm,..
Đến giữa năm thứ hai Đại học, chúng tôi đã sống không chỉ trong ánh sáng của tình bạn mà còn trong tiếng nhạc của tình yêu. Tình yêu, theo một lẽ rất tự nhiên, đến âm thầm và nhẹ nhàng như thế. Năm năm sau đó chúng tôi kết hôn và giờ đây gia đình tôi đã được đón thêm hai cô công chúa bé nhỏ đáng yêu. Câu cửa miệng của chồng tôi lúc nào cũng là "Ba mẹ con là cả thế giới của bố!".
Tôi tin rằng nếu số phận không cho chúng tôi yêu nhau, nên duyên với nhau thì chắc chắn vẫn còn lại cho chúng tôi tình bạn, một tình bạn thật đặc biệt. Tình bạn ấy đâu chỉ sống dựa vào những vui vẻ, hạnh phúc của tuổi thơ hồn nhiên, mà cũng đã được thử thách qua những nỗi buồn, khổ đau của tuổi yêu mơ mộng. Tôi không biết trước con thuyền thời gian có thể đưa chúng tôi đến đâu trong tương lai, nhưng nếu chỉ có duy nhất một điều là mãi mãi cho hai chúng tôi thì tôi vẫn tin đó chính là TÌNH BẠN.
Tình bạn xuất phát từ trái tim không thể bị nghịch cảnh đóng băng, cũng như nước chảy từ con suối không thể bị đông lại trong mùa đông (James Fenimore Cooper).